Forum Cao Học Kinh Tế Việt Nam là diễn đàn đầu tiên và duy nhất hiện nay hỗ trợ việc tìm kiếm thông tin tuyển sinh, học tập và nghiên cứu khoa học ở bậc Cao Học dành cho những ai đã, đang và sẽ theo học chương trình Cao Học Kinh Tế tại Việt Nam và các chương trình liên kết nước ngoài. Trong 03 năm qua, Forum đã có : 131.964 thành viên đăng ký tài khoản, trong đó : 11.394 thành viên thường xuyên, với 16.763 đề tài, 107.262 bài viết, và đội ngũ BQT Forum rất nhiệt tình và năng động đang sinh sống và làm việc trên khắp mọi miền đất nước và nước ngoài Xin vui lòng nhấn vào đây để đăng ký tài khỏan
Kênh thông tin quảng cáo hiệu quả cho các Doanh Nghiệp, Tổ Chức Giáo Dục
Mình đang cần tìm số liệu chưa phân tich về điều tra biến động dân số (chủ yếu là tình hình di dân). Tìm hiểu trên trang web của GSO thì thấy có cuộc điều tra biến động dân sô năm 2005, 2006 và cuộc điều tra di cư VN năm 2004. Số liệu ở đấy toàn là số liệu tổng hợp rồi. Mình đang tìm kiếm số liệu chưa tông hợp.
Nhân Lễ hội Cà phê tổ chức tại thủ đô cà phê cua Việt Nam,tôi xin gởi bản dịch về nghiên cứu cà phê của nước ngoài để các bạn tham khảo.(tài liệu mới trong năm 2008)
CẠNH TRANH VÌ KHÔNG GIAN CÀ PHÊ – KÍCH THÍCH PHÁT TRIỂN VÀ SỰ THAY ĐỔI TẠI VÙNG CAO NGUYÊN VIỆT NAM
VN là quốc gia sản xuất cà phê đứng thứ 2 trên thế giới. Lợi nhuận thu được từ sự mở rộng nền kinh tế cây cà phê thì đáng kể nhưng không phổ biến. Cây cà phê được phân phối theo từng nhóm dân tộc mặc dù chính phủ đã cam kết cân bằng phúc lợi xã hội. Tập trung vào tỉnh ĐakLăk ở vùng cao nguyên VN, chúng ta đánh giá sự chuyên đổi mậu dịch và “cạnh tranh vì không gian cà phê”. Sự kết hợp phân tích giữa lịch sử dân tộc và thu nhập hộ gia đình đã đánh dấu những lợi ích khác biệt giữa các nhóm dân tộc mang tính quốc gia và phi quốc gia mặc dù bị ảnh hưởng từ sự chiếm dụng đất của những người đi trước. Chúng ta giải thích kết quả này từ khái niệm “kích thích phát triển và sự thay đổi” (DID).
Những thành công từ sản xuất cà phê ở cao nguyên VN đã tạo nên nhiều thách thức cho các quốc gia khác. Vào 1987, có 30 quốc gia có sản lượng cà phê cao hơn VN nhưng hiện nay, VN xếp vị trí thứ 2 chỉ sau Brazil. VN chiếm 1,2 % thị trường cà phên thế giới vào 1989 và 12,4% chỉ sau 10 năm. Tập trung vào sản xuất cà phê ở tỉnh ĐakLak ở vùng cao nguyên VN, chúng ta phải đánh giá sự chuyển đổi mậu dịch có làm tăng chất lượng giữa các nhóm dân tộc trong xã hội chủ nghĩa hay khong cam kết đối với sự cân bằng về ytế và phúc lợi xã hội. từ thực tế đó, chủ đề của bài viết này chính là quyền lợi vì không giống như nhiều quốc gia xã hội chủ nghĩa khác, VN đã thu được nhiều lợi nhuận từ xuất khẩu cà phê. Mặc dù nhiều dân tộc đã được hưởng lợi từ sản xuất cà phê nhưng lợi nhuận thu được đã đánh dấu sự khác nhau giữa các nhóm dân tộc.
Sự bùng nổ về hàng hoá nông nghiệp đang chuyển đổi các mối quan hệ vùng trung du của VN cũng như các quốc gia lân cận như Indô, Lào. ở các vùng cao nguyên VN, nông nghiệp đang dần phát triển đã ưu đãi cho một số nhóm dân tộc so với các dân tộc khác. Chính phủ đã khuyến khích các nhóm dân tộc này di dời từ vừng biển lên các cao nguyên và hiện nay gọi là dân tộc thiểu số. Những người dân di cư này thì có sự khác biệt rõ rệt đối với người bản địa và đã đáp ứng được mục tiêu của chính phủ trong việc nổ lực đồng hoá, hoà nhập giữa các dân tộc.
Chúng tôi đã sử dụng phương pháp lướng tính đểđiều tra sự thay đổi của các nhóm dân tộc được lựa chọn ở vùng cao nguyên VN. Trước hết, chúng tôi sử dụng lịch sử dân tộc để thiết lập quyền sở hữu, những điều kiện về phúc lợi và sự đồng nhất của người dân Tây Nguyên ưu tiên đối với sự phát triển nhanh về sản xuất cà phê. Chúng tôi đã nhận thấy sự mở rộng của văn hoá cà phê trong và sau khoảng thời gian bị đô hộ theo sự khác biệt giữa các nhóm dân tộc đang phát triển. Tiếp đó, chú ý đến sự bùng nổ cà phê trong thời gian gần đây, sự di cư của dân tộc thiểu số cũng như người Kinh đến vùng Tây nguyên và so sánh giữa họ với những nhóm dân tốc chiếm ưu thế hơn. Chúng tôi đã sử dụng số liệu về cuộc điều tra năm 2003 đối với 209 hộ trồng cà phê để điều tra DID sử dụng kỷ thuật thống kê bao gồm sự phân tích hồi quy để so sánh thu nhập từ trồng cà phê giữa người Kinh và Êđê. Chúng tôi đã sử sựng số liệu duy nhất để hơn là chứng minh về diện tích nông trại, nguồn thu nhập chủ yếu của hộ gia đình và chức năng đối với chính sách đất đai của chính phủ có tác động khác biệt như thế nào đối với người Kinh và Êđê. Mặc dù nhiều người Êđê đã hưởng lợi từ sự phát triển ngành cà phê ở VN nhưng một số khác thì không nên đã từ bỏ trồng loại cây này. Nhìn chung, với sự cạnh tranh giữa các nhóm dân tộc quốc gia và phi quốc gia ở các vùng cao nguyên VN có thể được kiểm soát theo những phương pháp khác nhau nhằm giảm sự không đồng dều giữa các dân tộc và DID. Tóm tắt lịch sử phát triển của các dân tộc:
Cà phê du nhập vào Indo vào đầu thế kỷ 19 bởi hội truyền giáo và trước 1980 được trồng bởi người Pháp. Theo luật lệ thực dân, người Pháp thu hồi đất của người dân Tây Nguyên và phá rừng để lấy đất trồng cao su và cà phê cho xuất khẩu. Despite significant earnings, coffee proved more difficult to grow than crops such as lowland rice (Le Domaine Colonial Francais 1929) and did not rank among top exports. Mặc dù chúng mang lại nguồn thu nhập đáng kể, việc trồng và phát triển cà phê khó khăn hơn nhiều so với việc trồng lúa ở đồng bằng (Lê Domaine Colonial Francais 1929) và không đứng đầu trong các mặt hàng xuất khẩu.
In the 1920s, Indochina's economy entered a growth phase (Brocheux and Hemery 2001), and colonists sought fertile lands beyond populated regions. Trong những năm 1920, nền kinh tế của Đông Dương bước vào giai đoạn tăng trưởng (Brocheux và Hemery 2001), và thực dân đã tìm các vùng đất màu mỡ ngoài khu vực dân cư. Vast colonization zones were opened in the Highlands. Khu vực thuộc địa đã được mở rộng ở Tây Nguyên. Trong đó, ĐăkLăk là The center of this growth in coffee culture was Dak Lak Province in the Central Highlands (see Figure 1), where indigenous culture was markedly different from that of the coastal lowlands.trung tâm phát triển cà phê lớn ở Cao nguyên(xem Hình 1)
RDependable labor became an immediate barrier to Highland coffee expansion.Rào cản để mở rộng sản xuất cà phê Tây Nguyên là lực lượng lao động. The French adopted a paternalistic and protective attitude towards the Ede (Fortunel 2000), but considered them "unstable" and not well suited to the plantation labor. Người Pháp đã thực hiện chế độ gia trưởng và thái độ bảo hộ đối với người Ede (Fortunel 2000), nhưng họ coi những người này là "không ổn định" và cũng không phù hợp đối với việc trồng trọt. In contrast, the Kinh were seen as loyal and assiduous paddy cultivators and gradually came to be favored over the "land-wasteful, unpredictable and lazy minorities." Ngược lại, người Kinh được xem là những người trung thành và siêng năng nên thực dân Pháp đã khuyến khích người Kinh di cư đến vùng cao nguyên để sinh sống.
Chỉ sau Chiến tranh Thế giới thứ II, Hemileia vastatrix tấn công cà phê Arabica; từ 64,5 phần trăm của cà phê ở miền nam Việt Nam trong năm 1945, sản lượng Arabica giảm xuống 1,7 phần trăm trong năm 1957 (Teulieres 1961:86). One Robusta variety, canephora, proliferated due to its disease resistance and good returns.Rabusta vàFor a variety of reasons, however, embattled French administrators discouraged farmers from coffee cultivation and recommended that they concentrate on annuals such as rice. Canephora tăng nhanh về số lượng do có kháng thể tốt và đem lại nguồn thu lớn. Tuy nhiên, do nhiều lý do khác nhau, thực dân Pháp đã khuyến khích người dân từ trồng cà phê sang trồng lúa. Nhiều nông dân người Kinh đã rời khu vực Tây nguyên để trở về đồng bằng ven biển để trồng trọt.
Sau khi thực dân Pháp bị đánh bại tại chiến dịch Điện Biên Phủ vào năm 1954, Việc sản xuất cà phê được thống trị bởi các đồn điền lớn, đôi khi diện tích thâm canh được mở rộng. Trong một số khu vực của quốc gia, chính phủ mới khuyến khích trồng cà phê thông qua trợ cấp, miễn thuế, và người bảo hộ đã thực hiện các biện pháp thông qua các nghiên cứu về cải thiện giống cà phê. This pattern persisted up through reunification in 1975, at which time state farms replaced colonial plantations (Fortunel 2000).Mô hình này vẫn còn tồn tại cho đến khi thống nhất đất nước vào năm 1975, tại thời điểm mà các trang trại của nhà nước thay thế các đồn điền của thực dân. (Fortunel 2000).
Vào cuối những năm 1970, cải cách kinh tế và xã hội đã tạo ra sự thiếu hụt lao động ở Tây Nguyên, và Chính phủ Việt Nam đã bắt đầu tích cực thúc đẩy việc di cư của dân tộc Kinh lên khu vực Tây Nguyên (Hardy 2003). While poverty and overpopulation plagued some of Vietnam's lowland areas, the less populated highlands seemed to offer unlimited opportunity for expansion and exploitation. Trong khi việc nghèo đói và tăng dân số ào ạt đã gây ra các bệnh dịch ở các khu vực đồng bằng, trong khi đó dân số ở khu vực Tây Nguyên lại ít hơn nhưng lại không bị giới hạn cơ hội khai thác và phát triển. Additionally, military control in the highlands was poor, so settlement there improved national security and helped to guard against uprisings by ethnic minorities. Ngoài ra, việc kiểm soát quân đội ở khu vực Tây Nguyên chưa tốt, giải quyết được vấn đề này sẽ cải thiện được an ninh quốc gia và giúp đỡ để bảo vệ chống lại sự bạo động của các dân tộc thiểu số. The government thus organized large nationwide migration movements, with pledges of cleared fertile land and income from coffee production. Do vậy, Chính phủ đã tổ chức việc dư cư lớn trong phạm vi cả nước, với cam kết phục hồi các vùng đất mỡ và thu nhập từ sản xuất cà phê. Even after official government resettlement ended, the "free flow" inertia of in-migration in pursuit of coffee wealth continued throughout the 1990s. It is likely that between four and five million people migrated to the Central Highlands after 1975.Có khoảng bốn năm triệu người dân di cư đến Tây Nguyên sau năm 1975. While the population density in the Highlands was around three persons per square kilometer in 1940, by 1997 it had reached seventyseven persons per square kilometer (Fortunel 2000). Trong khi năm 1940, mật độ dân số ở Tây Nguyên đã khoảng 3người/ km vuông, đến năm 1997 nó đã đạt 77 người / km vuông (Fortunel 2000). These changes in population distribution and density were accompanied by ecological pressures, as will be noted below. Những thay đổi này trong phân phối mật độ dân số đã được kèm theo áp lực về hệ sinh thái, như sẽ được ghi dưới đây.
In 2002, the population growth rate of Dak Lak Province was, at 6.18 percent per annum, the highest in Vietnam. Trong năm 2002, tốc độ tăng trưởng dân số của tỉnh Đắk Lắk là 6,18%/ năm, caonhất ở Việt Nam. The province's population was about 1.8 million people (Oxfam 2002: 11). Dân số của tỉnh vào khoảng 1,8 triệu người (Oxfam 2002: 11). The ethnic transformation was remarkable. Các dân tộc đã được chuyển đổi đáng kể. In 1920, the Province reported virtually no Kinh residents. Năm 1920, tỉnh báo cáo hầu như không có cư dân Kinh. Two decades later, its population of 80,000 included 4,000 Kinh. Hai thập kỷ sau, dân số là 80.000 người, bao gồm 4000 người Kinh. During the French and American wars in the 1950s and 1960s there was a steady Kinh influx, and shortly after reunification, the Kinh constituted 61 percent of the population in Dak Lak ( Jamieson 1996). Trong những năm kháng chiến chống pháp và Mỹ từ 1950 đến 1960, và ngay sau khi thống nhất, người Kinh chiếm 61% trong tổng dân số ở ĐắK LắK(Jamieson 1996). Indigenous minorities such as the Ede and the M'nong, who made up forty-eight percent of Dak Lak's population in 1975, today comprise twenty percent (Oxfam 2002). Các dân tộc thiểu số như Ede và M'nông chiếm 48% dân số của Đắk Lắk vào năm 1975, hiện nay chiếm 20% (Oxfam 2002). The Kinh comprise about 70 percent, while other ethnic minorities from the Northern Highlands make up the remainder. Người Kinh chiếm khoảng 70%, trong khi các dân tộc thiểu số từ phía Bắc Tây Nguyên chỉ chiếm 30%. The government's plan for the period through 2010 is for Dak Lak to accept another 260,000 people from other parts of the country, the early expressions of which have met with repeated protests by minority ethnic groups (AITPN 2002). kế hoạch của Chính phủ trong giai đoạn từ nay đến 2010 cho phép Đắc Lắc có thể tiếp nhận 260.000 người di cư từ các dân tộc khác của đất nước.
Although coffee cultivation originated in colonial times, it was not until after reunification in 1975 that coffee production gained significant traction. Mặc dù trồng cà phê có nguồn gốc từ thời thuộc địa, nhưng sau khi thống nhất dất nước, việc rằng sản xuất cà phê đã có những chuyển đổi đáng kể. In the late 1980s, as the government began to dismantle the system of state farms and move toward a market-based economy, coffee area and output expanded exponentially. Trong những năm cuối 1980, chính phủ đã bắt đầu chuyển đổi sang trang trại nhà nước và theo hướng xây dựng một nền kinh tế thị trường, sản lượng cà phê và diện tích được mở rộng. Large changes in population dynamics accompanied this agricultural transformation. Sự chuyển đổi dân số kèm theo sự chuyển đổi nông nghiệp. Sự chuyển đổi nông nghiệp ở Tây Nguyên
The socio-cultural landscape of the Central Highlands has changed profoundly in recent years. Cảnh quan về Văn hóa-xã hội của Tây Nguyên đã có những thay đổi sâu trong những năm gần đây. After 1975, Vietnam's communist government launched a major resettlement campaign in New Economic Zones (NEZ) to better utilize labor, diversify the economy, accelerate collectivization, and ensure the security of the peripheral regions. Sau 1975, Đảng cộng sản Việt Nam đưa ra chiến dịch về tái định cư đối với các vùng kinh tế mới, khu công nghiệp (NEZ) nhằm sử dụng tốt hơn lựclượng lao động, đa dạng hóa nền kinh tế, đẩy nhanh quá trình tập thể hoávà đảm bảo an ninh của các khu vực lân cận. It simultaneously implemented its Fixed Cultivation and Sedentarization Program (FCSP) to motivate ethnic minorities to abandon shifting cultivation and other nomadic behaviors. Đồng thời triển khai thực hiện các định canh và Chương trình định canh (FCSP) để thúc đẩy các dân tộc thiểu số bỏ du canh và du cư. Collective ownership of land was instituted at the village-level. quyền sở hữu tập thể về đất đai đã được xây dựng tại làng xã. Traditional tribal lands were declared state property, eligible for redistribution. Các vùng đất của các bộ lạc truyền thống đã được xung công để phân phối lại. Villagers were encouraged to participate in cooperatives, state farms and forestry enterprises.4 Throughout the Central Highlands, NEZs brought all types of people together, particularly from the Central Coast. Dân làng đã được khuyến khích để tham gia vào hợp tác xã, trang trại và các xí nghiệp lâm nghiệp nhà nước. Ở Tây Nguyên, Các khu CN đã kết nối các người dân với nhau, đặc biệt là từ bờ biển miền Trung. Between 1976 and 1980, nearly half a million people were resettled in the NEZs in the three provinces of the Central Highlands, and another 260,000 were resettled between 1981 and 1988 (Muller 2004). Từ những năm 1976 đến 1980, gần một nửa triệu người đã được tái định cư trong khu CN của ba tỉnh của Tây Nguyên, và 260.000 người khác đã được tái định cư vào giữa 1981 và 1988 (Muller 2004). By 1985 there were twenty-five NEZs in Dak Lak Province (Fortunel 2000). Trước 1985 đã có 25 khu CN ở Tỉnh Đắc Lắc (Fortunel 2000).
Following widespread food shortages in the 1980s, the government adopted a radically new Economic Renovation Policy (known as Doi Moi). Trong những năm 1980, trình trạng thiếu lương thực phổ biến rộng rãi, Chính phủ đưa ra chính sách đổi mới kinh tế. Chính sách này đã thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội và hội nhập với các quốc gia khác trên thế giới, chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường. Các hộ nông dân tham gia vào các hợp tác xã, quy định quyền tư hữu tài sản từ việc sản xuất thông qua các "giấy chứng nhận", quy định lại thị trường và giá cả nông nghiệp và việc sút giảm về tỷ giá (Minot 1998). These reforms resulted in better farm-level prices for coffee and stimulated farmers to expand coffee cultivation. Những cải cách đã giá cà phê tăng lên và kích thích người dân việc trồng trọt cà phê.
Before 1988, land policies focused on transferring land from traditional forms of tenure to government control. Trước 1988, các chính sách đất tập trung vào chuyển giao đất từ hình thức chiếm hữu truyền thống sang kiểm soát chính phủ. Since 1988, official policy (the new Land Law) has sought to decentralize land rights from the State back to households and individuals, while reducing the role of the community in land tenure and administration (Tinh 2002). Kể từ 1988, chính sách chính thức (Luật Đất đai mới) đã phân quyền đất của Nhà nước lại cho hộ gia đình và cá nhân, trong khi giảm bớt vai trò quản lý và chiếm hữu đất đai của cộng đồng (Tinh 2002). With this change, households in the Central Highlands were entitled to use 1000 square meters of land to support the household economy (Tinh 2002). Với sự thay đổi này, hộ gia đình ở Tây Nguyên có quyền sử dụng 1.000 mét vuông diện tích đất để hỗ trợ các hộ gia đình kinh tế (Tinh 2002). At the same time, many of the state coffee farms began allocating plots to workers, converting them from members of cooperatives to tenants or renters who were responsible for the production of a given parcel of land (Minot 1998). Đồng thời, nhiều trang trại cà phê của nhà nước bắt đầu phân bổ từng lô đất cho công nhân, chuyển đổi chúng từ các thành viên của các hợp tác xã cho tá điền (Minot 1998). A second Land Law was passed in 1993. Luật Đất đai sửa đổi lần 2 được thông qua vào năm 1993. While all land remained, technically, under the ownership of the State, the new law permitted individuals to acquire the right to use and occupy land. Trong khi tất cả đất còn lại dưới quyền sở hữu của Nhà nước, các luật pháp mới cho phép các cá nhân có quyền sử dụng đất. Đặc biệt, các cá nhân có quyền mua bán, chuyển nhượng, thừa kế, cho thuê quyền sử dụng đất.
Do sự bùng nổ cà phê trong những năm 1990 và giá cà phê tăng, cư dân di cư đến vùng đất an toàn bằng cách chiếm dụng các vùng đất công, hoặc bằng cách mua quyền sử dụng đất từ người dân bản địa ở Tây Nguyên. Áp lực này về đất đai đã làm dân làng nhận thức của các giá trị đất trên thị trường. Kết quả là, nhiều đơn xin bồi hoàn đối với các vùng đất mà họ đã trồng trọt trên đó. Hiện nay các hộ gia đình được tự do quyết định quyền mua bán của mình. Cà phê đã được trồng rộng rãi bởi người Ede và người Kinh, đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã trở biện pháp quan trọng nhất để đảm bảo an toàn trong việc trồng trọt các loại hoa màu của các gia đình lao động. Luật Đất đai đã khuyến khích nông dân sử dụng đất theo những phương thức mới bằng việc mở rộng đất trồng trọt, giảm du canh và khai hoang, đồng thời gia tăng sản xuất nông nghiệp cũng như để cạnh tranh thành công trong thị trường toàn cầu. Cà phê: Nền tảng cho Sự bất bình đẳng và sự thay đổi
Mặc dù, việc tăng trưởng kinh tế đối với với cà phê của Việt Nam giai đoạn thống nhất đất nước, sự biến động về văn hóa số, kinh tế, xã hội, và có thể ảnh hưởng tới việc trồng trọt. Cơ cấu mới về quyền sở hữu đất kết hợp với giá Robusta tăng lên đã thu hút làn sóng mới của nông dân trồng cà phê. Từ năm 1986 đến năm 1996, Diện tích sản xuất cà phê đã tăng 21%/năm, trong khi sản lượng cà phê chỉ tăng 6%/năm (Minot 1998). Nhìn chung, việc sản xuất cà phê gấp mười hai lần trong thập niên này đã trở thành thử thách cho các nhà lãnh đạo của các quốc gia khác (Hình 2). Cảnh quan kinh tế, xã hội của tỉnh Đắk Lắk đã thay đổi, từ 6.000 ha cà phê vào năm 1975 đã tăng lên 130.000 ha vào năm 1997 (Fortunel 2000). Trong những năm gần đây, xuất khẩu cà phê chiếm từ 6% đến 12% trong tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam (Minot 1998).
Sự bùng nổ vào những năm 1990 đã cung cấp việc làm, nguồn vốn đầu tư mới, và nhiều hàng tiêu dùng, nó đã đem lại những thay đổi bất ngờ cũng như các thiệt hại về tính tự cung tự cấp, sự thái hoá về tính cộng đồng, làm tăng sự phân cấp trong xã hội, gây tổn thương cho các thế lực bên ngoài (Đặng 2003) và hạn chế an ninh môi trường. Sự giảm giá đồng tiền và giao động về giá cà phê thế giới đã tác động đến nông dân trong việc hội nhậo vào nền kinh tế tiền tệ (tiền mặt), đặc biệt là nếu họ đã cam kết sử dụng đất để sản xuất cà phê. Hình 2. Việt Nam sản xuất cà phê trong vòng Đông Nam Á Nguồn: Đầu tư cà phê tin tốt hơn, www.binews.com, trong Fortunel (2000:8).
Khi giá của cà phê thế giới giảm vào năm 2001, một số hộ gia đình
đã buộc phải giảm bớt số lượng các bữa ăn hàng ngày, và những người khác thì phải thay đổi chế độ ăn uống của họ. Trong năm 1999, $ 1,40 / kg cà phê chỉ kiếm được bốn mươi xu. Trong khi nền giáo dục đã được cải thiện trong những năm 1990, nhiều trẻ em của các hộ nghèo hay những gia đình trung lưu buộc phải nghỉ học. Oxfam 2002 báo cáo rằng cà phê giá cao giữa 1995 và 1999 đã giúp người dân địa phương mua xe đạp, tivi, xe máy, kéo, và máy bơm nước. Việc giảm giá cà phê gây ra các vấn đề về an ninh lương thực và dự trữ hang tiêu dùng. Oxfam (2002) báo cáo rằng, tại thời điểm của các cuộc khảo sát, 45% hộ gia đình trồng cà phê-thiếu thực phẩm, 66% đã có khoản nợ ngân hàng, và gần một nửa đã thay thế việc làm tư và sống nhờ vào tiền lương lao động.
Trong khi đó, điều kiện môi trường ở Tây Nguyên đã bị tàn phá. Trong ba thập kỷ qua, thêm vào đó là nạn phá rừng và sự rụng lá, hóa chất residues, landmines, sự xói mòn, acidification và các thiệt hại của đa dạng sinh học, dân số phát triển nhanh đã ảnh hưởng đến môi trường (Rambo và Jamieson 2003),
Nhiều diện tích đất rừng đã chuyển đổi thành diện tích trồng cà phê, nhiều người dân tộc thiểu số đã tham gia vào việc phá rừng để trồng các “cây đô la”. ''Một hậu quả là ngày hôm nay 'nạn phá rừng được xem là một trong những vấn đề môi trường nghiêm trọng nhất mà nhiều người dân VN phải đối mặt.'(Di Gregorio, Rambo và Yanagisawa 2003:174). Dân tộc Êđê: Hiệu ứng của Luật Đất đai
DID đang có những tác động khác nhau đối với người Kinh và người Êđê? Như đã nêu trên, các đại diện người Kinh chiếm 6% trong tổng dân số Tây Nguyên vào 1940 và chiếm 70% vào năm 1996 (Fortunel 2000). Theo Đặng(2003:91):''theo truyền thống, xã hội Êđê được đặc trưng bởi sự ổn định ở mức độ cao và tương đối đồng bộ giữa các hộ gia đình. Mặc dù đã có người nghèo và giàu trong làng, sự khác biệt trong xã hội này vẫn chưa gay gắt. Tuy nhiên, có những khác biệt đáng kể đối với sự giàu có giữa các hộ gia đình và người nghèo đã chiếm một tỷ lệ cao trong tổng dân số.''Đặng quan sát những khác biệt đáng kể về nhà ở, đất đai: trong khi vẫn còn một số dân làng trồng trọt cả cà phê và các loại sản phẩm khác.
Các Luật Đất đai 1993 hỗ trợ cho “nông nghiệp vĩnh viễn” này còn có một đề tài dân tộc quan trọng. Người trồng cà phê dự định sẽ đưa ra những luật lệ này nhằm nâng cao phúc lợi xã hội để ngăn ngừa hệ thống thâm canh bị tàn phá, việc cải cách thay thế tình trạng hoang hoá với các phương pháp tiếp cận đến khả năng tăng trưởng của đất, hầu hết các yêu cầu về vốn đầu tư, hóa chất đầu vào, hoặc bổ sung lao động. Vấn đề này đã làm suy yếu rừng sinh thái quốc gia và các hiệp hội trồng rừng trong nền văn hóa Ede, và cũng có thể loại bỏ một trở ngại quan trọng đối với các hành vi giải phóng rừng, giải phóng sinh học, phục vụ người Ede nhằm đảm bảo an ninh trong thời gian hạn hán, thiên tai, hay khủng hoảng quốc gia . Nhà nước có chính sách hạn chế các hình thức nông nghiệp truyền thống và các nhóm dân tộc (Đặng 2003).
Những người giám sát đã khẳng định quan điểm này (Plant 1994; Tĩnh 2002). Ở một số địa phương, đất đai đã được phân chia bất bình đẳng giữa các hộ gia đình. Giới hạn hạn mức đất đai ở khu vực miền núi được mở rộng thêm khoảng cách tài sản giữa các hộ gia đình và bắt đầu tranh chấp đất đai.Theo kế hoạch, người Ede lại trồng cà phê để bổ sung thu nhập của họ. Ngoài việc chiếm hữu các vùng đất truyền thống thuộc quyề sở hữu của các hộ gia đình, pháp luật cũng tạo điều kiện cho các hộ gia đình sinh sống trong những khu nhà tập thể. ''Sổ đỏ'' cấp cho các gia đình của họ như giấy chứng nhận tên của người chủ ngôi nhà đó, phần lớn bỏ qua tập tục mẫu hệ của người Ede và truyền thống vợ là chủ gia đình (Đặng 2003:85). Một hạn chế độc tài đã được đưa ra đối với số tiền cấp đất cho các khu chung cư theo số hộ gia đình. Điều này buộc nhiều gia đình rời khỏi các khu chung cư vũnây dựng nhà riêng biệt như một cách hợp thức hoá việc trồng cà phê.
Trong quá khứ, thành viên của các khu chung cư thường là làm nông và chia sẻ thức ăn với nhau. Một người phụ nữ lớn tuổi nhất của khu chung cư sẽ chịu trách nhiệm giám sát và quản lý những vấn đề liên quan. Trong nền kinh tế mới về tư hữu hoá đất đai, các gia đình, sự đầu cơ đối với cà phê , các thành viên trẻ hơn thì đã kết nối với thế giới bên ngoài và đã tiếp cận với công nghệ, những hiểu biết của người nông dân,sự kết nốithị trường , và tiếp cận các khoản vay (Đặng 2003). Mối bất hoà giữa các thế hệ thì phổ biến, chẳng hạn như các doanh nhân trẻ tuổi trồng cà phê nhưng không cần sự hỗ trợ của tập thể và sau đó yêu cầu thu hoạch như tài sản riêng của họ. Hơn nữa, việc cạnh tranh cho không gian cà phê đã làm hạn chế đất trồng lúa hay cho săn bắn và hái lượm. Do đó, người dân sống dựa vào thực phẩm đã mua hơn là từ trồng trọt.
Vì vậy, để nói rằng nền kinh tế của người dân Ede thay đổi từ sử dụng tiền mặt cho sản xuất vụ mùa chỉ bắt đầu của những thiệt hại bởi tồn kho đối với hộ gia đình . Luật Đất đai tương tự đã đã ít tác động đến người di dư thuộc dân tộc Kinh. Ở hầu hết các khu vực của đất nước, quyền sử dụng đất chính thức và quyền sở hữu đất hộ gia đình đã là một chuẩn mực, chính thức hoặc không chính thức. Trong số các người Kinh, những người có cùng huyết thống là theo chế độ phụ hệ, và họ chính là những người chủ sở hữu và được phân chia thừa kế về đất đai. Hơn nữa, những di dân thường đến từ các khu vực với gia đình hạt nhân và liên quan đến các phong tục tập quán, bao gồm cả việc phân chia và sử dụng đất . Luật Đất đai được phổ biến rộng rãi từ các trang trại trong cộng đồng người Kinh. Nếu những kháng nghị gần đây đang là một dấu hiệu (AITPN 2002), cà phê dựa trên DID là trong hầu hết các phương cụ thể cho dân tộc người Ede. Kích thích phát triển và sự thay đổi
DID đã thể hiện thuật ngữ mới đối với một hiện tượng đang được quan tâm trong xã hội học (Vandergeest et al. 2007). Sự xuất hiện của DID gần đây đang được tìm thấy trong văn học trên Boomtown (xem Freudenburg
1992), Sự đổi mới thành(Cernea 1989; Thompson 2004), Sự phát triển đô thị (Thukral 1992), và trên Brookings Institution (Cohen và Deng 1998). Vandergeest và đồng nghiệp (2007) có sự hỗ trợ nghiên cứu về DID do những thay đổi về cách nhìn của họ đối với những chính sách về đất nông thôn, nâng cao cơ hội kiếm sống của một số người dân từ chi phí của những người khác. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, DID đã xảy ra như là một khái niệm mà không có sự di dời hay trục xuất.
Cà phê liên quan đến sự phát triển ở miền Trung Việt Nam, đã thu hút được sự chú ý của các nhà kinh tế (Glewwe, Gragnoalati, và Zaman 2000; Hà và Shively 2008; Van de Walle và Gunewardena 2001) và những người khác đối với những câu hỏi về những thay đổi xã hội ở khu vực Tây Nguyên (Baulch et al.
2002; Đặng 2003). Baulch và đồng nghiệp (2002) đã xem xét sự khác biệt trong đời sống giữa các nhóm dân tộc khác nhau ở Việt Nam. Họ cho thấy rằng, với tốc độ tăng trưởng trong năm 1990, các hộ gia đình dân tộc Kinh đạt tiêu chuẩn sống cao hơn đáng kể so với hộ gia đình ở vùng dân tộc thiểu số , thu nhập của người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên thì còn thấp. Một số người dân tộc thiểu số có vẻ đã khá hơn dớiự đồng hoá (cả hai kinh tế, văn hóa) với phần lớn người Kinh. Những người khác đang cố gắng để hội nhập kinh tế trong khi giữ biệt sắc văn hoá; và một nhóm thứ ba chủ yếu đang được thay thế trong giai đoạn phát triển.
Viện trợ Việt Nam và của Trung tâm Phát triển Nông thôn (CPR) (2000) báo cáo những tác động về sự thay đổi nông nghiệp gần đây đối với các hộ gia đình ở Tây Nguyên. Điều này cho thấy rằng những thay đổi khác nhau trên các nhóm có thu nhập khác nhau phụ thuộc vào khả năng bẩm sinh cũng như qua quá trinhg được đào tạo. Theo báo cáo, dân cư của tỉnh Đắk Lắk đã không được bình đẳng với thành công trong việc nắm bắt những cơ hội tăng thu nhập theo các nguồn lực khác nhau, chủ yếu vốn đầu tư và đất đai. Hộ gia đình có giáo dục cao hơn và con trẻ sẽ có nhiều khả năng được hưởng lợi nhiều hơn từ sự bùng nổ trong ngành cà phê. Hơn nữa, các tác giả lưu ý rằng rủi ro đối với hộ gia đình phụ thuộc vào trồng cà phê là đáng kể, đặc biệt là rủi ro về giá và thiên tai. Cho người nghèo và những người khó khăn, những tác động trái ngược về sự dao động giá là rất nghiêm trọng. Van de Walle và Gunewardena (2001) tranh luận rằng sự chênh lệch về mức sống giữa các dân tộc thiểu số và phần lớn các nhóm dân tộc khác không chỉ là vấn đề địa lý; họ khác nhau trong khu vực. Nhìn chung, các hộ gia đình dân tộc thiểu số có cấp độ giáo dục thấp hơn, hơn nữa, ít trẻ em được đi học, và ít cơ hội kinh tế phi nông nghiệp. Các hộ gia đình dân tộc thiểu số thường phải trở về với công việc trồng trọt vì họ luôn thiếu các cơ hội được làm những công việc khác. Nghiên cứu cho thấy rằng, việc mở rộng quốc gia, những vấn đề về vị trí địa lý cần phẩi được khắc phục nhiều hơn nữa để đáp ứng nhu cầu sống của các dân tộc thiểu số.
Trong một bài viết về sự tác động của kinh tế và xã hội đối với sản xuất hàng hoá trong cộng đồng Tây Nguyên, Đặng (2003) quan sát rằng thu nhập từ các vụ mùa là một cách chưa bảo đảm để cải thiện điều kiện sống của các nhóm thiểu số. Trong khi đó, nguồn thu nhập này có thể mang lại một số tiền cao hơn , chúng cũng có thể mang lại chi phí bất ngờ cho các cộng đồng ngăn chặn sự dao động của thị trường, mất tính tự cung tự cấp, hạn chế giúp đỡ lẫn nhau, và sự phân tầng trong xã hội có nghĩa là sự bất bình đẳng giữa các nhóm dân tộc. Hà và Shively (2008) xem xét những phản ứng của người trồng cà phê khi bị vụ mùa bị rớt giá và thấy rằng những di dân Kinh đang có nhiều khả năng thay đổi cây trồng, vay mượn, hoặc tìm những việc làm phi nông nghiệp hơn các thành viên của cộng đồng dân tộc thiểu số. Họ tranh luận rằng sự thiếu phản ứng đối với thành phần dân tộc thiểu số đã phản ánh khả năng nông nghiệp còn hạn chế, thiếu cơ hội và bị loại trừ từ mạng lưới kinh tế được thống trị bởi người Kinh.
Sự khan hiếm về các dữ liệu về phúc lợi xã hội lien quan đến cà phê là sự cải tiến vvề tư duy đối với DID. Tuy nhiên, các nghiên cứu trên cũng cho thấy các dân tộc chiếm đa số có xu hướng tốt hơn so với các dân tộc thiểu số. Kết quả này có thể được tìm thấy trong một xã hội quân bình như là một thành tích, giả định rằng các chính sách đồng hoá đang bị nắm giữ và cả hai nhóm đang được liên quan đến tình hình trước đó hay sự phát triển một kịch bản hợp lý. Trong bối cảnh khác, nó có thể thể hiện sự khó khăn của những dân tộc thiểu số những người bị đánh giá thấp hoặc bỏ qua đơn giản chỉ vì họ đã không thể thay đổi cơ chế tự nhiên. Các phương pháp nghiên cứu
Bây giờ yêu cầu của chúng tôi là sẽ phân tích sát hơn về những điều kiện có lien quan đến những người nông dân trồng cà phê ở các vùng dân tộc thiểu số và các tài liệu kinh nghiệm của họ trong những năm gần đây. Chúng tôi đã sử dụng dữ liệu của 2003 thu thập từ 209 trong bốn vùng thâm canh cà phê của huyện Cư M'gar, ở trung tâm của tỉnh Đắk Lắk. Chúng tôi định kỳ làm phong phú thêm những phỏng vấn với kết quả từ một khảo sát về nông-kinh tế-xã hội vào 1999 ở Đắc Lắc và cuộc khảo sát đầu tiên bởi hai tác giả vào những thời điểm khác trong năm 2004 và 2005. Dữ liệu của 2003 đã được thu thập bởi nhà nghiên cứu tại Trường Đại học Nông Lâm bằng cách sử dụng bảng câu hỏi và đào phương pháp liệt kê. Cuộc khảo sát này là một phần trong sự theo dõi đối với một nghiên cứu vào 1999 của những người trồng cà phê ở Tây Nguyên. Theo tổng kết của Hà (2000). Các mẫu được phân tầng qua làng để có thể nắm bắt được những đặc điểm chủ yếu về kinh tế-xã hội môi trường, đặc biệt là đối với các kỹ thuật sản xuất và sử dụng nước (đang được nổi lên như là một vấn đề đáng quan tâm ở nhiều khu vực trồng cà phê). Nông dân đã được chọn mẫu ngẫu nhiên từ những người dân trồng cà phê trong làng. Mặc dù các dữ liệu đã cho thấy tình hình cà phê ở Tây Nguyên, cuộc khảo sát dữ liệu vẫn chưa đầy đủ các đại diện của tất cả các huyện trồng cà phê, phải lưu ý rằng có những khác biệt quan trọng giữa các vùng khác nhau của Tây Nguyên và cũng như sự khác nhau các nhóm dân tộc. Khoảng 2/3 của các quan sát (n=144) đến từ các hộ gia đình người Kinh và 1/3 (n565) đến từ hộ gia đình là dân tộc Êđê, lấy mẫu phân trăm phù hợp với thành phần dân số của người Kinh và người Ede cũng như các dân tộc khác.
Dưới đây, chúng tôi tập trung sự chú ý vào thu nhập của các hộ gia đình để so sánh thu nhập từ cà phê của người Kinh và người Ê Đê. Như đã trình bày ở trên, Việc phân tích 2 và nhiều biến số dẫn đến nhiều kết luận khác nhau, đặc biệt khi chúng tôi kiểm soát những tác động của một số các biến nêu trong các nghiên cứu trên về giáo dục, sự phân công lao động, diện tích nông trại, sử dụng các chính sách ưu đãi để phát triển cà phê, và những tác động khác nhau của tính cách sắc tộc. Tỉnh Đăk Lăk
Đắk Lắk là trung tâm trồng cà phê của Việt Nam. Nằm ở Tây Nguyên của Việt Nam với diện tích 13.062 km2, bao gồm khoảng 264.000 ha cà phê (năm 2000) (Greenfield 2004). Trong năm 2003, diện tích trồng cà phê của Đăk Lăk đã chiếm trên 50% diện tích trồng cà phê và đạt 60% sản lượng cà phê của cả nước. Điều quan trọng của việc phân tích này là nguồn thu từ cà phê chiếm 95% thu nhập của địa phương. Đăk Lăk là tỉnh có tỷ lệ dân di cư cao trong những năm 1976 đến 1998 với hơn 500.000 người, gấp bốn lần dân số bản địa (Xuan 1998).
Đắk Lắk có khí hậu nhiệt đới, thuận lợi cho sự phát triển của nhiều cây trồng, bao gồm cả cao su, tiêu đen, cây ăn quả, cacao, ngô, đậu và bông. Với lớp đất bazan dày và có hai mùa rõ rệt, nó lại rất thuận lợi để phát triển cà phê Robusta. Mùa khô kéo dài 4 đến 5 tháng, cho phép thu hoạch và phơi sấy mà không cần sử dụng quá nhiều chất đốt. Nguồn nước ngầm được bổ sung vào tháng sáu, lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.700 millimetres (Oxfam 2002). Nằm ở độ cao 500 đến 700m so với mặt biển, Tây Nguyên thường có nhiệt độ cao, có sự khác nhau giữa đêm và ngày, rất lý tưởng cho việc sản xuất cà phê (Nhan 2001). So sánh thu nhập của các hộ gia đình
Sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất trong thu nhập của các trang trại gia đình ở Tây Nguyên, và nguồn thu nhập chính của hầu hết nông dân là từ sản xuất cà phê. Các phân tích của chúng tôi về thu nhập của người Ê đê và người Kinh đã đưa ra một cái nhìn khác về việc nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của người dân tộc đối với việc sản xuất này.
Bảng 1. Đặc điểm của trang trại cà phê, tỉnh Đắk Lắk, 2003
Trang trại Người Kinh Trang trại người Ê đê Tổng cộng các trang trại Sô lượng Hộ GĐ (số)
5,3 * (1,61)
7,1 * (2,07)
5,9 (1,95) Độ tuổi chủ hộ
45,4 (11,66)
44,7 (11/21)
45,2 (111,53) Trình độ chủ hộ
8,0 * (2,98)
4,8 * (4,15)
6,98 (3,68) Diện tích trang trại
1,38 * (0,95)
1,97 * (1,03)
1,56 (1,01) Diện tích cà phê
1,09 * (0,76)
1,74 * (0,95)
1,29 (0,87) Tuổi cây cà phê
11,4 (4,61)
12,0 (5,62)
11,6 (4,89) Sản lượng cà phê (kg / ha)
3045 * (1272)
2044 * (1847)
2734 (1244) Thu nhập (1000đ)
50084 * (35479)
37.228 * (25.183)
46.086 (33.108) Thu nhập bình quân/ngươi (1000đ)
10.015 * (7961)
5735 * (3968)
8684 (7237) Thu nhập ngoài trang trại (1000đ)
4510 (10297)
3994 (7759)
4351 (9572) Đóng góp ngân sách từ thu nhập
0,76 (0,43)
0,86 (0,35)
0,79 (0,41) Lao động từ gia đình (ngày)
153,2 * (81,4)
184,8 * (81,2)
163,0 (82.5) Lao động thuê ngoài (ngày)
71,5 * (73,5)
36,6 * (53,0)
60,7 (69,6) Mức độ ưu đãi (1: sử dụng ưu đãi, 0: không sử dụng)
0,47 * (0,50)
0,75 * (0,43)
0,55 (0,49) Chiếm dụng (% nông trại)
0,84 * (0,32)
0,67 * (0,35)
0,78 (0,34) Số lượng quan sát
144
65
209
Lưu ý: phần chênh lệch trong ngoặc. * Cho biết có sự khác nhau đáng kể trong các cặp thử nghiệm-t ở mức thử nghiệm 10%. Trong năm 2004, 1USD =15.787 đồng. Nguồn: sử dụng dữ liệu khảo sát 2003, Ha và Shively (2008).
Dữ liệu khảo sát của chúng tôi đã được tổng kết trong Bảng 1. Dữ liệu trên cho thấy hộ gia đình người Ê đê có ảnh hưởng đáng kể hơn (7,1 so với 5,3 thành viên) và có trình độ giáo dục thấp hơn (4,8 năm so với 8,0 năm) so với người Kinh. Người Ê đê có diện tích trang trại lớn hơn (1,97 ha, so với 1,38 ha), và diện tích trồng cà phê cũng lớn hơn so với người Kinh (88% so với 79%). Mặc dù tuổi của cây cà phê đã không khác nhau giữa hai nhóm, sản lượng cà phê của người Ê đê lại thấp hơn (2.044 kg / ha so với 3.045 kg / ha). Do đó, thu nhập của người Ê đê cũng thấp hơn, chiếm khoảng 70% thu nhập của hộ gia đình người Kinh. Nhìn chung, cả hộ gia đình người Ede và Kinh trong xuất hiện mẫu đều phụ thuộc nhiều vào cây cà phê, mặc dù thu nhập từ cà phê của các hộ gia đình người Ê đê chiếm tỷ lệ cao hơn trong tổng số thu nhập hộ gia đình (0,86). Các hộ gia đình người Kinh thì có tỷ lệ chiếm dụng đất cao hơn người Ê đê.
Trở lại tương quan giữa thu nhập hộ gia đình và dân tộc (r = -0,19), chúng tôi thấy rằng nó là phủ định và có ý nghĩa thống kê (Bảng 2). Thu nhập của gia đình Ede thường thấp hơn người Kinh. Chủ hộ người Ede cũng có trình độ giáo dục thấp hơn so với người Kinh (20,40), nhưng lại có những chính sách ưu đãi hơn trong việc trồng cà phê (0,27), có thể đây là kết quả nỗ lực để mở rộng mục tiêu trên địa bàn tỉnh. Ngược lại với các suy đoán trên, thu nhập của các gia đình có tương quan tiêu cực đến việc sử dụng lao động từ gia đình (20,28) và tương quan tích cực đến việc thuê mướn lao động từ bên ngoài (0,35). So với người Ede, người Kinh có xu hướng sử dụng lao động thuê ngoài và ít sử dụng lao động trong gia đình. Nó cho thấy các lao động trong gia đình người Ede không tham gia các hoạt động không tạo ra nguồn thu nhập, mặc dù phỏng đoán này có thể không được thử nghiệm với các dữ liệu có sẵn. Đưa ra những tương quan giữa các dân tộc và sử dụng các chính sách ưu đãi, giáo dục, và lao động, chúng tôi mong muốn tìm ra ưu thế khác nhau về thu nhập của người Kinh cao hơn người Ede. Bảng 2.Tương quan giữa thu nhập, tính sắc tộc của hộ gia đình và các liên quan khác đến sản xuất trong Huyện Cư M'gar, 2003
N=209. * Cho biết tương quan lớn, ở mức 95% mức độ tin cậy (thử nghiệm1-tailed). Nguồn: sử dụng dữ liệu khảo sát 2003. Ha và Shively (2008).
Quả thực, trong mô hình hồi qui đầu tiên của chúng tôi (xem Bảng 3, cột 1), sau khi giữ nguyên các yếu tố khác, chúng tôi thấy rằng các dân tộc Ede có tương quan không tốt với thu nhập. Mặc dù các kết quả đã đưa ra kiến nghị chung về phương pháp hồi quy, nhưng những sự thuyết minh, giải thích về phương pháp hồi quy còn yếu (R2 được điều chỉnh = 0,14), và hầu hết các cá nhân ước tính các hệ số hồi qui còn yếu. Điều này ngoại lệ đối với các lao động thuê ngoài. Mặc dù theo như chúng tôi thì việc thuê mướn lao động càng nhiều là kết quả của các hộ gia đình có thu nhập cao, như là một nguyên nhân của thu nhập này. Điều quan trọng là phải lưu ý rằng diện tích trang trại có tương quan với thu nhập của hộ gia đình (r = 0,574) và cũng có thể thay đổi với người dân tộc. Nó cũng liên kết việc phân tích của chúng tôi với Luật Đất đai. Các hộ gia đình người Ede thường có trang trại lớn hơn, trung bình khoảng 1,9 ha, trong khi trang trại của người kinh thì khoảng 1,3ha. Khi các mẫu sử dụng cho các trang trại lớn và nhỏ, (trên và dưới 1,5 ha), chúng tôi thấy rằng người Kinh có nhiều trang trại nhỏ hơn người Ede (bảng 3). Do vậy, chúng tôi trở lại việc phân tích hồi quy với một câu hỏi mới: diện tích đất nông trại có chức năng khác nhau trong 2 bối cảnh văn hóa?
Để trả lời câu hỏi này, chúng tôi sẽ đưa ra kết quả từ biến hồi qui thứ 2 về thu nhập trong cột thứ hai của Bảng 3. Mô hình 2 thêm diện tích trang trại vào danh sách những biến hồi quy từ mô hình 1. Như trong mô hình 1, các hệ số trong mô hình 2 có ý nghĩa lớn trong các mức độ kiểm tra tiêu chuẩn. Quan trọng là R2 điều chỉnh nhiều hơn gấp ba R2 trong mô hình 1 (R2=0,48), điều này cho thấy là diện tích trang trại thêm vào sự giải thích quan trọng đối với phương pháp hồi quy. Gần một nửa của sự biến đổi trong thu nhập hộ gia đình được giải thích bằng phương pháp hồi quy này. Kiểm soát diện tích các trang trại tăng cường sức thuyết minh về dân tộc. Một lần nữa, tính cách sắc tộc có mối tương quan tiêu cực đến thu nhập, mặc dù một thực tế là, người Ede thường có những trang trại lớn hơn. Xét về diện tích trang trại, các gia đình người Kinh dường như có thu nhập cao hơn là các gia đình người Ede.
Mô hình cho thấy mô hình 2 đã khẳng định thu nhập không đồng đều căn cứ vào vấn đề về tính cách sắc tộc, nhưng những câu hỏi vẫn còn, tại sao lại như vậy? Diện tích trang trại lớn là lợi thế cho người Ede dựa trên cao tương giữa diện tích trang trại và thu nhập của gia đình. Kết quả trong cột cuối cùng của Bảng 3 cung cấp một cái nhìn sâu sắc về các mối quan hệ giữa dân tộc, diện tích trang trại và thu nhập.
Mô hình hồi qui 3 tạo nên một tương tác giữa dân tộc và diện tích trang trại. Tầm quan trọng của việc diện tích trang trại tăng lên, vượt quá phạm vi của mô hình 2. Để biết cụ thể hơn, việc kết thúc mối tương quan giữa các dân tộc và diện tích trang trạng là rất mạnh mẽ và thay thế các dân tộc như việc giải thích quan trọng nhất tiếp theo trong phương pháp hồi qui. Diện tích trang trại ảnh hưởng đến thu nhập của gia đình theo nhiều cách khác nhau cho cả hai nhóm dân tộc. Điều này thì ít quan trọng hơn đối với người Ede.
Bảng 3. Mô hình hồi quy thu nhập của hộ gia đình.
Mô hình 1 Mô hình 2 Mô hình 3 Hằng số
4.378 (4,58)
14.021 (1,78)
8.420 (1,08) Dân tộc (0=Kinh, 1= Ede
-7.795,4 (1,48)
-23.301,2 (5,40)
-1.594,5 (0,22) Trình độ học vấn (chủ hộ, năm)
-67,3 (0,10)
-24,4 (0,05)
53,9 (0,11) Lao động GĐ (người-các ngày/năm)
-34,9 (1,01)
6,1 (0,23)
0,1 (0,0) Lao động thuê (người-các ngày/năm)
126,9 (3,07)
70,9 (2,18)
64,2 (2,03) Sử dụng các ưu đãi (1=có, 0=Không
-630,8 (0,14)
-2.711,5 (0,76)
-2.294,6 (0,66) Diện tích trang trại (ha)
21.416,1 (11,5)
26.135,9 (0,66) Dân tộc x diện tích trang trại
-12.761,8 (3,59) R2
0,14
0,48
0,51 Số quan sát
209
209
209
Lưu ý: giá trị tuỵêt đối của thống kê t xuất hiện trong ngoặc.
Nguồn: sử dụng dữ liệu khảo sát 2003. Ha và Shively (2008).
Người Kinh thường sở hữu những vườn nhỏ và những chính sách về đất đai của Chính phủ cũng tác động lớn đề cả về diện tích vườn lẫn công dụng của nó.
Qua tìm hiểu cho thấy việc phát triển mạnh cà phê ở Tây Nguyên Việt Nam điển hình từ xa xưa kinh tế phát triển cùng với kết quả của việc lấn chiếm diện tích. Kết quả đó cũng bộc lộ về những điều kiện thuận lợi về thu nhập khác nhau giữa đồng bào dân tộc đã định cư lâu dài ở Tây Nguyên và thành phần dân tộc di cư đến trong những thập niêm gần đây. Hơn nữa, kết quả phát triển cà phê thật bất ngờ đã được ghi nhận từ xưa, qua phân tích đã cho thấy thu nhập hộ gia đình của đồng bào dân tộc Edê không thể so sánh với dân tộc Kinh được mặc dù diện tích canh tác của họ lớn hơn và lâu năm hơn. Qua tìm hiểu, dân tộc Eđê được cấp nhiều đất hơn nhưng thu nhập hộ gia đình lại thấp hơn là điều dễ hiểu qua chuỗi thay đổi tình thế mà chúng ta sẽ đánh giá sau đây. Sự thay đổi tình thế
Những khác nhau về thu nhập có thể được lý giải theo nhiều cách. Công việc của người dân tộc cao hơn so với mức thu nhập từ cà phê của người Kinh. Mặc dù dân tộc Kinh sở hữu diện tích đất trung bình ít hơn nhưng sản lượng cà phê trên 1ha lại cao hơn gấp 3 lần sản lượng của dân tộc Eđê vào năm 1999 (2000 ha), gấp 2 lần vào năm 2002 và cao hơn gần 50% vào năm 2005. Sự khác nhau về tỷ lệ phụ thuộc trong hộ gia đình cũng tạo nên sự khác nhau về thu nhập trong gia đình. Số thành viên trong gia đình của dân tộc Eđê (7,1 người) cao hơn dân tộc Kinh (5,3 người), có lẽ vậy do mức độ phụ thuộc cao thì năng suất lại giảm. Mặt khác, dân tộc Kinh có thể thuê lao động do thành viên trong gia đình ít nên thiếu lao động để quản lý sản xuất; nếu thuê nhân công thì họ sẽ chuyên môn, chuyên nghiệp hơn. Ngược lại, lao động trong gia đình của dân tộc Eđê có thể không hiệu quả (như phụ nữ và trẻ em theo truyền thống thì chỉ làm những công việc nhẹ trong gia đình) như thiếu trình độ, kỹ năng, kỹ thuật và khả năng sản xuất và cũng ít tiếp xúc với bên ngoài. Dân tộc kinh có điều kiện thuận lợi vì các thành viên trong gia đình biết canh tác cà phê, trình độ học vấn cao hơn, dịch vụ tưới tiêu, biết cách chăm bón nên thu nhập cao hơn. Hoặc là do dân tộc Eđê đã quá thật khi họ bán những vùng đất tốt cho người Kinh và lại rút về những vùng đất kém màu mỡ. Khác với dân tộc Kinh, dân tộc Eđê thiếu những kinh nghiệm về những vụ mùa có tính thương mại, mạng lưới thị trường và nguồn tín dụng. Trái với những gì xảy ra đối với ngành nông nghiệp tại chỗ trong ¼ thế kỷ qua.
Những giải thích như vậy có thể hợp lý nhưng chỉ đúng một phần. Người ta không muốn cho chúng tôi biết lý do diện tích đất phục vụ cho những mục đích cơ bản khác nhau trong những chiến lược sống còn của 2 nhóm dân tộc. Chúng tôi đoán là những vùng đất của dân tộc Eđê mang tính mạng lưới bảo toàn văn hoá, khác với những gì chúng tôi biết được về dân tộc Kinh trong mối liên quan của của họ với vùng đất mà họ sinh sống. Mạng lưới bảo tồn văn hoá nghĩa là những Luật về đất đai mang tính ngăn chặn hoặc bài trừ chứ không tồn tại đa văn hoá. Niềm tin cộng đồng rất mãnh liệt vẫn tiếp tục ăn sâu vào lòng dân tộc Eđê và cũng bộc lộ sự tồn tại về an ninh. Thực tế, đa văn hoá, luân canh và bảo vệ rừng với nhiều lý do khác nhau đã làm cho các hộ gia đình dân tộc Eđê gặp những cản trở trong canh tác và sản xuất.
Cho đến khi thống nhất đất nước vào năm 1975, xã hội Eđê vẫn còn duy trì rất nhiều thủ tục nguyên tắc của họ, Bui Minh Dao (2000) tường thuật rằng hầu hết vùng đất và rừng ở Tây Nguyên vẫn còn phải tuân thủ dưới sự quản lý truyền thống và sự chiếm hữu những vùng đất công. Suốt giai đoạn này, sản xuất cà phê Việt Nam vẫn chưa mở rộng và cũng không có sự tương tác giữa những nhóm dân tộc ở Tây Nguyên. Bắt đầu từ năm 1976, dần dần và sau đó diện tích canh tác cà phê mở rộng một cách nhanh chóng, dân tộc Kinh di cư đến và những chính sách tư nhân hoá đã được thay đổi. Thông qua những chương trình tại chỗ và canh tác cố định và những Luật đất đai, Chính phủ Việt nam đã bắt đầu đồng hoá đồng bào Tây Nguyên những người bất đồng ngôn ngữ, văn hoá, định chế riêng biệt và đồng nhất lại (Dang 2003, Dournes 1974, Van de Walle and Gunewardena 2001). Giấy chứng nhận QSD đất đã được ban hành nhưng vẫn không mở rộng đến những vùng đất được sử dụng cho mục đích công và truyền thống. Cuối cùng một số người dân Eđê vẫn chiếm giữ những vùng đất lớn nhưng không có giấy chứng nhận và chỉ có giấy chứng nhận đối với những khu vườn nhỏ mà đang thu hoạch.
Biểu đồ 4 biểu hiện sự tương quan giữa hộ gia đình dân tộc Eđê và dân tộc Kinh và cho thấy 100% đất của họ đều có Giấy chứng nhận quyền sử dụng chính thức. Năm 2003, chỉ có 46% hộ Eđê có Giấy chứng nhận cho toàn bộ diện đất thuộc sở hữu của họ và 83% hộ dân tộc Kinh có chứng nhận. Trái lại, theo Biểu đồ 5, vấn đề này được quan tâm hơn khi mà mỗi nhóm dân tộc được phân chia theo diện tích lớn nhỏ khác nhau. Bây giờ, thay vì 46% thì chỉ còn 23% nông dân Eđê sở hữu những vùng đất lớn nhưng đất canh tác cà phê không tốt bằng những khu đất của người Kinh. Sau này, gần 2/3 dân tộc Eđê sở hữu những vườn cà phê nhỏ; hay nói cách khác những vườn cà phê lớn thuộc quyền sở hữu của người Kinh.
Chúng tôi hiểu rằng người dân Eđê không nhận thức đựơc tiềm năng của những khu vườn có lớn hơn vì thiếu Giấy chứng nhận QSD đất sản xuất. Quyền sử dụng tài sản có thể hỗ trợ đầu tư sản xuất. Tuy nhiên, không hiểu nếu có Giấy chứng nhận QSD đất người dân Eđê có thay đổi hành vi của mình hay không. Họ phân phối lao động theo lòng tin mang tính văn hoá mà đã ăn sâu vào đời sống từ lâu đời. Lòng tin đó chính là sự kế thừa lợi ích tập thể để đảm bảo lương thực, sự màu mỡ của đất, khôi phục môi trường và duy trì cộng đồng. Cũng như người Kinh, dân tộc Eđê đã dùng đất đai để ngăn chặn những thăng trầm của việc độc canh thương mại và những nhược điểm của việc thay đổi chế độ. Những đặc điểm khác nhau của các nhóm dân tộc; thứ nhất là do lãnh thổ của dân tộc Eđê phục vụ cho vai trò văn hoá quan trọng, thứ hai là do người Kinh tập trung vào việc làm thế nào để đất đai của họ năng suất hơn, có nhiều cơ hội (như nguồn lao động) để giảm thiểu những rủi ro. Chính phủ cũng tăng sử dụng đất đai để tăng hàng hoá đủ cạnh tranh với thị trường thế giới. Bất chấp những vùng đất không phù hợp với kế hoạch sản xuất của quốc gia, Chính phủ đang đẩy lùi lãnh địa truyền thống của người Eđê. Đó chính là việc lấn chiếm dân tộc Eđê mà không cần ép buộc phải di chuyển về mặt địa lý.
Bản báo cáo về sự phân phối không tương đồng về lợi nhuận từ một giai đoạn nổi bật trong nền kinh tế nông thôn của Việt Nam qua chuỗi thay đổi tình thế. Sản xuất cà phê bắt đầu ở Đông dương theo các điều khoản hơi giống những điều khoản thay thế hiện nay-tăng diện tích cây cà phê Arabica theo hệ thống đồn điền của thực dân có kỳ vọng phát triển thương mại. Cả những nhà quản lý theo chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa thực dân đều sử dụng kỹ nghệ của người nông gốc dân tốc Kinh, nhóm dân tộc có khả năng thích nghi với những thay đổi về chỗ ở, vụ mùa thương mại và trung thành với đảng. Phải thừa nhận rằng bùng phát cà phê suốt 30 năm qua là kết quả của sự hy sinh, khả năng thích nghi và sự tín nhiệm của Chính phủ. Sư phát triển kinh tế cà phê thời gian gần đây đã làm thay đổi vị trí của các nhóm dân tộc và theo nghiên cứu thì đây là dân tộc Eđê. Nhóm dân tộc này không có sự tương đồng trong việc hỗ trợ phát triển cà phê vì những bất lợi liên quan và mất an ninh hơn là vì không gian và sự di cư.
Tình hình cà phê Việt Nam hiện nay với giá đang dần có lợi trên thị trường thế giới khi mà trong nước đang chú trọng đến việc giảm dần chi phí sản xuất và cải thiện chất lượng cà phê, đặc biệt cà phê đang được giới thiệu rộng cả thị trường trong nước và nước ngoài. Theo Ông Đoàn Triệu Nhạn, Chủ tịch Hiệp hội cà phê Việt Nam, bản báo cáo phát triển Việt Nam năm 2003 cho thấy tốc độ phát triển kinh tế Việt Nam những năm qua ở mức 7% (World Bank 2003b). Điều này chứng tỏ kinh tế Việt Nam nằm trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất ở Châu Á, chỉ sau nước láng giềng-Trung Quốc. Suốt thập kỷ qua, kinh tế Việt Nam tăng gấp đôi và giảm 50% tỷ lệ hộ nghèo giảm (từ 70% xuống còn 35% dân số - World Bank 2002c). Tuy nhiên vấn đề đặt ra là Việt Nam có thể giảm nghèo và tăng quyền bình đẳng dân dộc.
Chính sách đồng hoá và di cư của Việt Nam suốt 3 thập kỷ qua đã cho thấy kết quả hoà nhập về phúc lợi cũng như thịnh vượng được bình đẳng hoá. Vấn đề cạnh tranh “không gian cà phê” giữa những nhóm dân tộc thổ dân và dân tộc di cư ở những vùng Tây Nguyên được quản lý linh hoạt để giảm bớt bất bình đẳng dân tộc đã diễn ra trong quá khứ. Việc đưa ra các chính sách hiện nay phải kết hợp chặt chẽ giữa và trong các nhóm dân tộc vẫn phải duy trì và gia tăng. Một số nông dân, đặc biệt là những thành phần lao động và thích nghi nhất thì có thu nhập cao từ cà phê và những mùa thu hoạch khác, trong khi những thành phấn khác đang bị đẩy lùi phía sau do những đặc tính của họ. Một viễn cảnh đã được cải thiện trong chính sách mang lại nhiều cơ hội cho những dân tộc thiểu số về giáo dục, ưu đãi về kinh tế, quyền sở hữu đất đai và quyền sử dụng tài nguyên.
Múi giờ GMT+7. Hiện tại là 04:02 AM.
Các thông tin và số liệu trên Forum chỉ mang tính chất tham khảo
Thành viên Sáng Lập Cá Heo và những người bạn Bản Quyền thuộc về
Cộng Đồng Cao Học Kinh Tế Việt Nam